Một tấm bảng trong một cửa tiệm cạnh nhà tôi ghi:

Cẩn thận trong việc chọn lời của bạn 
Giữ cho chúng ngắn gọn và ngọt ngào 
Bạn không bao giờ biết sẽ có một ngày 
Những lời nào rồi bạn sẽ phải lãnh. 

 


Tôi đã suy nghĩ rất nhiều về sự kiện là đức Phật đã dành riêng một chi phần đặc biệt trong Bát Chánh Ðạo cho sự nói năng chân chánh, tức Chánh Ngữ. Ngài có thể đơn giản hóa bằng cách nhập nó vào chung với Chánh Nghiệp, tức hành động chân chánh, cũng được vậy! Vì nói năng cũng là một hình thái của hành động. Có thời gian tôi nghĩ có lẽ đức Phật để nó riêng ra là vì chúng ta nói nhiều quá. Nhưng rồi sau đó tôi đã đổi ý - vì biết có một số người không nói gì nhiều hết. Bây giờ, tôi nghĩ nó được phân loại riêng là vì lời nói của ta có một quyền năng rất lớn.

Vài năm trước đây, tôi có đọc được một câu trên một trang báo. Nó được in ở cuối trang như một câu châm ngôn chêm vào cho đầy hết trang báo, vì bài viết vẫn còn dư một khoảng trống. Tôi không còn nhớ bài viết về đề tài gì, cũng như trên tờ báo nào, nhưng tôi vẫn còn nhớ rõ câu ấy. Nó ghi, "Gậy và đá đôi khi có thể làm gẫy xương ta, nhưng lời nói thì lúc nào cũng có thể gây thương tích cho ta."

Ðôi khi trong lớp, tôi thường hỏi, "Em nào đã từng bị gẫy xương giơ tay lên." Sau khi các em đưa tay lên, tôi nói, "Em nào bây giờ vẫn còn đau vì gẫy xương thì cứ để tay cho tôi xem." Thường thường thì tất cả những bàn tay đều bỏ xuống. Sau đó tôi hỏi tiếp, "Giơ tay lên nếu có em nào vẫn còn cảm thấy đau đớn về một chuyện gì đó mà ai nói với em trong một năm vừa qua." Rất nhiều bàn tay đưa lên. "Giữ tay ở đó nếu em nào vẫn còn cảm thấy khổ đau vì một lời phê bình của ai về mình trong năm năm qua." Những bàn tay vẫn còn đưa cao. "Mười năm qua... hai mươi năm qua... ba mươi năm qua... lời nói của ai khi em mới được năm tuổi." Nhiều bàn tay vẫn còn giơ cao. Họ quay chung quanh nhìn nhau và mỉm cười, ngượng ngùng, nhưng tôi không nghĩ là có ai vui vẻ gì. Ðó là một giây phút thật dễ thương của sự chia xẻ lòng từ ái, của việc làm chứng nhân cho một gánh nặng mà tất cả chúng ta đang mang trên vai, một nỗi đau của những lời phê bình gây thương tích. Tôi tự hỏi, nếu ta có bao giờ thật sự quên bỏ được chúng không! Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều rất dễ bị thương tích, như một cái bánh kem-su, bên ngoài tuy dòn nhưng bên trong rất là mong manh, và cũng rất là ngọt ngào.

Vào thập niên 60, châm ngôn của xả hội thời ấy là "Hãy bộc lộ ra hết tất cả," tôi cứ tưởng tượng về việc mình sẽ viết một quyển sách có tựa đề Giữ Hết Lại Bên Trong. Tôi cảm thấy lo âu vì mọi người không ý thức được rằng chúng ta có thể dễ dàng bị thương tích đến mức nào. Nhưng mấy năm gần đây, tôi đã đổi tựa quyển sách của tôi thành Giữ Nó Lại Bên Trong Cho Ðến Khi Nào Chúng Ta Tìm Ðược Một Ðường Lối Ðể Phát Biểu Cho Có Hữu Ích.

Tôi tin là chúng ta có bổn phận phải nói sự thật. Nói lên sự thật là một phương cách giúp ta chăm sóc kẻ khác. Ðức Phật dạy chúng ta phải hoàn toàn chân thật, nhưng ngài cũng dạy thêm là bất cứ một lời nói nào của ta cũng phải có hai yếu tố: chân chánh và hữu ích.

Khi dạy về Chánh Ngữ, đức Phật cũng cung cấp cho ta một kim chỉ nam trong việc sửa sai người khác. Một sự khiển trách, đức Phật dạy, phải có đủ những yếu tố sau đây: thời gian, chân thật, nhẹ nhàng, dễ thương và bổ ích. Khi tôi nói cho người ta nghe về những tiêu chuẩn ấy, họ thường kêu lên, "Nhưng nếu vậy thì sẽ không còn ai có thể khiển trách ai được nữa hết!" Tôi thì nghĩ khác. Tôi nghĩ với Chánh Ngữ người ta vẫn có thể phát biểu ý kiến hoặc nhận xét của mình qua một đường lối mà người kia có thể lắng nghe và sử dụng được, mà không hề cảm thấy mình bị thấp kém.

Trình độ sơ cấp của chánh ngữ là những lời nói không gây đổ vỡ thêm cho bất cứ một hoàn cảnh nào. Việc này sẽ ngăn ngừa được những lỗi lầm căn bản, như là nói dối hoặc cố ý dùng những lời gây khổ đau. Trình độ cao cấp của chánh ngữ sẽ giúp duy trì sự quân bình của hoàn cảnh, bằng cách không cộng thêm vào đó yếu tố phá hại của việc ngồi lê đôi mách.

Ngồi lê đôi mách tức là nói chuyện về một người nào đó không có mặt. Khi nói chuyện gièm pha về một người thứ ba là ta đang mời gọi người nghe cùng chia xẻ cái khoảng không gian cáu kỉnh, bất an trong tâm mình. Nói chuyện ca ngợi về một người thứ ba có thể khiến cho người nghe cảm thấy họ là không quan trọng. Như vậy tại sao ta lại không chọn nói về những gì đang có mặt trong hiện tại?

Sau đây là một bài tập về chánh ngữ cho trình độ cao cấp. Bắt đầu ngày mai khi bạn thức dậy, đừng nói chuyện phiếm. Coi việc gì sẽ xảy ra nếu bạn không phê bình về bất cứ một ai không có mặt. Cẩn thận lắng nghe tiếng nói trong tâm khi nó chuẩn bị để phê phán, và bạn hãy tự hỏi, "Tại sao mình phải nói như thế?" Thấy được ý định của ta là phương cách hay nhất để biết được lời phê phán mà ta sắp nói ra có là chánh ngữ hay không. Ý định của ta có tốt lành không, có thật sự là một ý muốn giúp đở người khác hay không? Hay chỉ là để khoe khoang? Hoặc là gièm pha?

Ðôi khi chuyện ngồi lê đôi mách có vẽ dường như là vô hại, một cố gắng để gợi chuyện, để trám cái khoảng trống im lặng giữa hai người. Tôi nghĩ chúng ta ưa nói chuyện phiếm vì sợ người bạn của mình sẽ nghĩ rằng ta không thấy thích thú đủ để nói chuyện với họ. Khi ta có thể có mặt với một người nào đó và nói, "Tôi đang có một thời gian tuyệt vời và rất thích cùng đi dạo với bạn (ăn với bạn, lắng nghe nhạc với bạn, uống trà với bạn), nên chúng ta không cần phải nói chuyện gì", đó là một hạnh phúc lớn. Tôi xuất thân từ một gia đình của những "nhà vô địch" thích nói chuyện, cho nên tôi rất ngạc nhiên khi khám phá ra là mình lại rất thích những khoá tu thiền im lặng. Rửa xà-lách, xắt cà-rốt trong thinh lặng, với một người khác cũng rất là thân mật. Thật vậy, chia xẻ cái không gian thinh lặng của công việc làm xà-lách với một người lạ trong vòng một tuần, khơi dậy một cảm giác chúng tôi là những người bạn rất thân thiết. 

Một trình độ rất cao của Chánh Ngữ đòi hỏi ta phải ý thức được ý định của mình trong tất cả mọi sự truyền thông, không phải chỉ có trong việc nói chuyện phiếm mà thôi. Tôi cũng bắt đầu xem xét lại lời nói của chính mình sau một thời gian tu tập trong thinh lặng. Khi trở về nhà, cũng mất dăm ba ngày trước khi lời nói của tôi trở lại cái tốc độ phản ứng quen thuộc của nó. Tôi đã có thể ghi nhận được cái khoảng thời gian, từ khi câu trả lời khởi lên trong tâm tôi và cho đến khi nó thoát ra khỏi miệng. Tôi có đủ thời giờ để ý thức được động cơ nào đã thúc đẩy mình. Xét ra những động cơ thúc đẩy tôi cũng rất tốt đó, nhưng chúng không tốt như tôi đã tưởng. Có lẽ 80 phần trăm những câu trả lời của tôi là để trình bày sự thật, 10 phần trăm là tôi bị thúc đẩy vì muốn phô trương cách thức khéo léo mà tôi sẽ trình bày chúng, và 10 phần trăm còn lại là tôi muốn gây một thiên kiến nơi người nghe. Ðôi khi còn tệ hơn thế nữa! Ðôi khi 10 phần trăm chót ấy là một hình thức che đậy, một thủ đoạn để trả đũa người khác, cho một sự khinh thường, có thật hoặc tưởng tượng, nào đó.

Lúc mới đầu, tôi rất nản khi khám phá ra tôi đã lạm dụng năng khiếu sử dụng ngôn ngữ của mình, lấy đó làm một phương tiện kín đáo để hành xử không đẹp. Nhưng tôi cảm thấy thật nhẹ nhàng sau khi quyết định sẽ không làm thế nữa. Chánh Ngữ ở một trình độ cao cấp xét ra cũng không phải là khó lắm. Một khi tâm ta đã được hướng dẫn để quán sát tìm những thông điệp ẩn tàng, nó sẽ hành động theo đó một cách tự nhiên.

Và Chánh Ngữ ở trình độ tối cao là ta phải biết trung thực hoàn toàn, nó đòi hỏi ở nơi ta một sự có mặt trọn vẹn. Tôi học được điều này từ Jim, một nhà tâm lý học tôi có dịp làm quen khi chúng tôi cùng dạy chung tại một cuộc hội thảo đối thoại giữa Phật giáo và Công giáo. Tôi đã đọc những quyển sách của ông viết, và rất mừng được dịp đi ăn chiều với tác giả.

"Chị nghĩ sao về đề tài A, Sylvia?" ông hỏi. (Tôi dùng A, B, C... vì không còn nhớ chúng tôi nói về vấn đề gì, và những điều tôi học từ Jim là cái phương cách mà ông nói hơn là từ ở nơi chủ đề.)

"Tôi nghĩ như vầy, như vầy và như vầy," tôi trả lời lập tức. "Còn anh nghĩ sao về đề tài B và C?"

Ông ta chỉ ngồi yên lặng. "Chết rồi," tôi thầm nghĩ. "Có lẽ mình đã làm gì mích lòng ông ta chăng. Chắc là những điều mình hỏi có tính cách cá nhân quá. Hay có lẽ mình đã nêu ra nhiều đề tài quá."

Nhưng rồi ông từ tốn trả lời, "Tôi nghĩ như thế này, thế này về B và C. Còn chị nghĩ sao về vấn đề D?"

"Ồ, D," tôi đáp ngay, "Tôi nghĩ như vầy, như vầy và như vầy. Còn E và F thì sao?"

Và ông lại ngồi im lặng. Tôi chợt thức tỉnh và thấy được chuyện gì đang xảy ra. Khi tôi hỏi ông nghĩ gì, thì ông thật sự bỏ ra thời giờ để suy nghĩ. Ông trả lời bằng cách nói cho tôi nghe những gì ông đang nghĩ ngay bây giờ, không phải là của ngày hôm qua hoặc của tuần trước. Tôi cảm thấy mình được ông quý trọng. Tôi cảm thấy ông biết tôn trọng những câu hỏi của tôi đủ để ông nói cho tôi nghe một sự thật hiện tại nhất về nó.

Bài thực tập của Chánh Ngữ ở trình độ tối cao tức là luật Sáu Mươi Giây trong khi trò chuyện. Bất cứ khi nào có ai đặt một câu hỏi, người đáp cần phải im lặng trong sáu mươi giây trước khi trả lời. Vì sự dừng lại ấy là bắt buộc, cho nên câu trả lời của ta sẽ có nhiều cơ hội để bao gồm sự suy ngẫm, xem xét ý định, duyệt lại giọng nói - tất cả những gì là tối cần thiết cho một câu trả lời sáng suốt. 
 

Nguyễn Duy Nhiên

Mục Lục