lớn lên trong thiền viện
(Tiếp Theo)

Thời gian mà tôi yêu thích nhất ở thiền viện là các ngày lễ lớn, và ngày lễ trọng đại hơn tất cả là ngày Vesak, tức Phật Ðản. Vào ngày ấy, Rafe Martin với bộ râu trắng và chiếc áo thụng dài màu xanh nước biển, làm một vị thần ngủ, kể cho chúng tôi nghe những câu truyện về tiền thân của đức Phật. Tiếp đó, cả tăng thân, có đến hằng trăm người vào dịp lễ Vesak, cùng nhau hát lên điệp khúc: "Phật là ai, Phật là ai, ở nơi tôi đến, ở nơi tôi đến? Phật là hạt mưa, Phật là biển cả, Phật là tất cả và Phật là tôi..." Rồi chúng tôi đi ra ngoài sân, mỗi người cầm một quả bong bóng, sau một tiếng hét to mọi người đồng loạt thả chúng bay cao. Cả bầu trời đầy những bong bóng đủ màu, và tôi thường đứng nhìn cho đến khi chúng bé dần, trở thành những chấm nhỏ tí trên bầu trời xanh. Nhưng đôi khi, vài ngày sau đó, tôi bắt gặp một quả bóng xì hơi xẹp lép nằm cô đơn trên một bãi cỏ hoặc sau sân nhà, lúc ấy tôi chợt ý thức được rằng con người ai rồi cũng sẽ chết, mặc dù không hiểu rõ vì sao.

Sau khi thả bong bóng, cuộc diễn hành bắt đầu. Ðây là một màn rất vĩ đại vì cả tăng chúng cùng nhau đi diễn hành trên đường phố, dẫn đầu là một con voi trắng sáu ngà thật lớn. Thật ra thì con voi ấy là một hình nộm làm bằng thạch cao, có hai người lớn đứng bên trong. Tôi thường cố gắng đoán xem coi đó là ai bằng cách nhìn đôi chân của họ, nhưng không tài nào biết được. Tôi nghĩ rằng có lẽ đó là những người làm ở xưởng mộc, nhưng cũng có thể mỗi năm người ta thay phiên nhau.

Tôi đặc biệt ưa thích ngày lễ Vesak, vì lúc nào cũng có thật nhiều kem ăn, và mọi người ai ai cũng vui vẻ tươi cười, ngay cả thầy trụ trì. Tôi ước gì lễ Vesak kéo dài 364 ngày một năm, và chỉ có mỗi một ngày để mọi người mặc vào chiếc áo nâu để sống trang nghiêm và trịnh trọng, thay vì là ngược lại.

Vào mỗi vài tháng, thiền viện có tổ chức một khóa tu thiền kéo dài bảy ngày, gọi là sesshin. Ba má tôi thường tham dự những khóa tu ấy, và vì họ không được phép tiếp xúc với thế giới bên ngoài, nên tôi phải đến ở nhà của người quen trong suốt thời gian đó. Thú thật thì tôi lại thích đi ở vòng vòng như thế, mặc dầu tôi cũng nhớ má tôi nhiều lắm, nhưng vì tôi có dịp bàn chuyện thể thao với nhiều người mới, được sống ở một căn nhà lạ và được mọi người chăm sóc.

Có một lần, tôi được dịp truyền thông với má tôi khi bà còn đang ở trong một khóa tu. Lúc ấy trường tôi có một cuộc tranh tài để đoạt giải nhất về bộ môn dã cầu, tôi rất muốn má tôi có mặt, nhưng bà không thể nào bỏ ngang khóa tu. Nên tôi được phép viết cho bà một lá thư nhỏ, ghi lại kết quả của cuộc tranh tài, đội banh của tôi đã thắng đội bên kia với số điểm 26-1, và là vô địch của bộ môn dã cầu, chúng tôi ai cũng được trau cho một chiếc cúp.

Ðôi khi tôi và gia đình người quen có dịp đi ngang qua thiền viện, và biết rằng má tôi đang ngồi đâu đó trong ấy. Tôi có một cảm giác rờn rợn mỗi khi đi ngang qua thiền đường, nhất là khi mọi người đang quán chiếu về một công án nào đó, thỉnh thoảng có những tiếng kêu hoặc hét lớn "Vô!" vang dội ra, như từ một lò sát sinh tâm linh nào đó vậy.

Buổi sáng sau khi khóa tu vừa hoàn mãn thì bao giờ cũng tuyệt vời. Mọi người bước ra ngoài với một vẻ mặt ngỡ ngàng, râu tóc không chải gỡ, với giọng nói khàn khàn. Và sau đó là một buổi ăn sáng hoàn toàn thoải mái, bắt đầu vào 9 giờ thay vì là 7 giờ rưỡi sáng như thường lệ. Vào dịp này tôi được phép ăn chung với mọi người, và lúc nào cũng là bánh mì bê-gô (bagel) với lại bơ phó mát và xà-lách, trái cây trộn nhỏ, thay vì là món cháo đặc nhạt nhẽo thường ngày. Thỉnh thoảng họ lại mở nhạc Rolling Stones hoặc Beatles trên những ống loa. Tất cả như một luồng gió mát thổi vào thiền viện.  

Những người mới ra khỏi khoá thiền trông cũng giống như là những tên bất lương hoặc những dũng sĩ vừa mới trả xong nợ của mình. Họ trở về từ chiến trận, sau bảy ngày phấn đấu vất vả, và giờ họ như những đứa bé sơ sinh chào đón ánh mặt trời. Tôi có một cảm giác kính phục khi nhìn những vị chiến sĩ tâm linh ấy, tôi ước muốn rồi sẽ được như họ. 

Năm mười bốn tuổi, tôi được thọ bồ tát giới, có nghĩa là từ ngày ấy trở đi, tôi chính thức nguyện sẽ giúp mọi chúng sinh bằng hành động từ bi của mình. Ý tưởng ấy đã ăn sâu vào tâm khảm tôi, mặc dù đôi khi tôi cảm thấy rằng, mình chỉ có thể có hạnh phúc khi nào giúp đở kẻ khác. Tôi tạo dựng nên con người mình bằng cách giúp đở kẻ khác. Tôi không bao giờ cảm thấy đầy đủ, trọn vẹn trừ khi làm những việc tốt. 

Nói chung thì tôi lớn lên nghĩ rằng thế giới này là một nơi xấu xa, đầy những sợ hãi cần phải được vượt qua, mà may mắn là tôi được sống chung với những người có đặc ân biết phương cách giải thoát. Bây giờ nhìn lại, tôi ước gì phải chi có ai đó nói cho tôi biết rằng, thế giới này không phải chỉ có toàn là khổ đau. Nhưng việc ấy tôi đã phải tự chính mình khám phá ra sau này. 

Một thông điệp khác mà tôi thu nhận được ở thiền viện là bất cứ một tham vọng trần tục nào cũng đều vô nghĩa hết, vì chỉ có một mục tiêu duy nhất là chính đáng, đó là sự giác ngộ. Tôi cũng được dạy rằng, muốn cái gì cho riêng mình là một điều xấu, vì nó có nghĩa là ta còn chấp Ngã, và tôi chỉ nên nghĩ đến việc làm hài lòng kẻ khác mà thôi. Ðối với bọn chúng tôi, khi lớn lên trong ý niệm về vô ngã đó, thì khó mà có thể ý thức được khi nào biên giới của mình bị chà đạp, và khi nào thì sự bất mãn của mình là chính đáng. 

"Bậc có tuệ giác không bao giờ cố gắng thành đạt một mục tiêu nào hết..." Những lời ấy được trích ngay từ trong bài kinh nhật tụng tại thiền viện. Từ ngày đầu tiên, tôi đã được dạy rằng mình không nên có một mục đích nào hết - và bây giờ họ lại bảo tôi phải cố gắng để lên đại học? Cái gì mà lạ lùng vậy, tôi cứ ngỡ rằng sự ham muốn là xấu, và bây giờ người ta lại hỏi tôi muốn lớn lên sẽ làm gì? Ta có thể cảm thấy được sự mâu thuẩn ấy!

Một đứa bé trưởng thành trong một môi trường thiền học, rất khó mà có thể dễ dàng hội nhập vào xả hội hoặc muốn thành đạt một việc gì. Tôi nghĩ, điều quan trọng là chúng ta nên gieo cho những đứa trẻ một cảm nhận rằng, chúng có thể sáng tạo, chúng có thể có những ước mơ thật cao, thật xa vời như những vì tinh tú trên trời, và rồi một ngày nào đó chúng sẽ thể hiện được.

Nói cho cùng, giáo lý của Phật rất là vô giá đối với tôi. Nó giúp tôi phát triển được một ý thức sáng tỏ trong cuộc sống của mình. Nhưng trước hết tôi cần phải tạo một ý thức vững vàng về cá nhân của chính tôi trong cuộc đời, và từ đó tôi sẽ có thể ứng dụng được giáo pháp của Phật một cách sâu sắc hơn. 

Lớn lên, tôi được khuyến khích không nên có một quan điểm nào hết. Bây giờ thì tôi có rất nhiều quan điểm đối với nhiều việc. Ðôi khi tôi có thể là một người cứng đầu. Và đôi khi tôi cũng luôn luôn xét lại những ý kiến của mình, và tự hỏi những động cơ nào đã thúc đẩy tôi. Tôi ý thức được luật vô thường và vô ngã, và những ý niệm đó ảnh hưởng rất lớn đến cái nhìn của tôi về cuộc đời. Tôi ý thức được sự cần thiết tạo cho mình một cuộc sống có ý nghĩa trên quả đất này. Ða số những ý nghĩa ấy tôi tìm thấy qua sự sáng tạo - như là âm nhạc, viết lách và đóng kịch. Mục tiêu chánh là tự quán chiếu, một phương pháp hoàn toàn là của Phật giáo. Tự tánh ta thì bao giờ cũng trống không và nó luôn luôn biểu lộ.

Ðó là lý do vì sao bộ môn kịch nghệ lại rất hấp dẫn đối với tôi. Trong bộ môn kịch, tôi có thể tiếp nhận trọn vẹn một thực tại, trong một khoảnh khắc - tư thế, thái độ, kinh nghiệm, và cả một vũ trụ mà tôi hoàn toàn có mặt. Rồi trong khoảnh khắc kế tiếp, vũ trụ ấy tan biến mất, và tôi lại hòa nhập vào một thế giới khác hoàn toàn mới mẻ - tư thế khác, thái độ khác, và một lịch sử khác. Khả năng buông bỏ và tiếp nhận những quan điểm mới ấy, đối với tôi chính là sự thực tập về lý Không. Tôi không hề bị dính mắc vào bất cứ một quan điểm nào hết. Không thể nào được, nếu tôi muốn là một kịch sĩ giỏi. Những quan điểm, thái độ, tư thế... sanh lên rồi lại diệt đi. Những vai trò cũng thế, sanh rồi diệt - đó chính là cốt tủy của thiền.
 

Cao Khánh Như dịch

Mục Lục