lớn lên trong thiền viện

Josh Schrei sống tại tu viện Rochester Zen Center từ năm anh 1 tuổi cho đến 10 tuổi. Cha mẹ anh là dân thường trú tại đây. Lớn lên, anh có sang Á Châu trong hai năm. Trở về Hoa Kỳ, anh tham gia bộ môn kịch nghệ và đi trình diễn ở nhiều nơi, được nhiều sự khen ngợi của giới chuyên môn. Anh là một phật tử theo trường phái Phật giáo Tây tạng. Dưới đây là bài viết của anh kể lại những năm lớn lên trong thiền viện Rochester Zen Center.
Tuổi thơ của tôi ngập tràn mùi hương của khói nhang Nhật bản. Nó thấm sâu vào ký ức và trám đầy những kẽ nứt trong óc tôi. Nhang dùng ở tu viện Rochester Zen Center, thường là loại được lấy từ một cái hộp nhỏ hình chữ nhật, màu xanh lá cây, bên trên có viết chữ Nhật màu son đỏ. Những thanh nhang nhỏ ốm màu nâu, được gói thành từng bó bằng một loại giấy kiếng mỏng manh. Trong những đêm cúng lễ tại tu viện, khi những tượng Phật được đem ra phủi bụi và bàn thờ được chưng dọn trang nghiêm, người ta đốt những cây nhang thật to, cao gần bằng tôi, và chúng cháy hằng giờ.

Vào những đêm cúng lễ, ít nhất là có khoảng trăm người tại tu viện, ngồi lưng thật thẳng, tụng kinh với giọng trầm và lớn, họ quỳ lạy cả thân người nằm dài trên sàn gỗ, đi đến mỗi tượng Phật thắp nhang và gỏ trên một cái mõ thật lớn có trạm hình con cá. Tôi vẫn còn nhớ, đôi khi tự hỏi không biết mọi người đang làm gì, và tại sao mà ai cũng lộ vẻ nghiêm mật đến thế. 

Những đứa trẻ khác cũng có mặt trong những đêm lễ, ba má chúng không phải là dân thường trú. Tôi thường tỏ cho những đứa trẻ ấy thấy là mình thuộc kinh nhiều hơn, vì chúng chỉ thỉnh thoàng lên tu viện mà thôi. Tôi là đứa trẻ duy nhất của dân thường trú, nên tôi có mặt ở đó quanh năm. 

Tôi không biết phải hành xử như thế nào cho đúng trong những tối lễ. Tôi nhận thấy được cái không khí nhiêm trang của buổi lễ, nên tôi không cảm thấy tự nhiên khi chạy chơi với những đứa trẻ khác. Thường thường tôi hay tìm cách quân bình bằng cách chạy chơi một chút rồi lại ngồi thiền một chút. Tôi tự nhủ rằng, mình mới có bảy tuổi, chưa cần thiết phải ngồi thiền nhiều. Những người lớn mỗi khi thấy tôi ngồi thiền, họ lộ vẻ khâm phục lắm, và tôi rất thích như vậy. 

Buổi ăn sáng ở thiền viện rất là nghiêm khắc, mọi người phải tụng vài bài kinh gì đó, và rồi buổi ăn được diễn ra trong im lặng. Trong một buổi họp, có vài người cho rằng tôi làm cho họ bị phân tâm, nên tôi phải ăn sáng ở một nơi khác, xa những người lớn. Ở tầng hầm dưới có nhiều bút mực cho tôi vẽ hình các vị Phật, Siêu nhân (Superman) và người Dơi (Batman), nên tôi cũng không cảm thấy buồn mấy khi bị đuổi xuống ăn sáng ở phòng dưới lầu. Dù vậy, khi mình bị gọi là một sự phân tâm của họ, và bị đuổi đi một nơi không có ai, thì cũng chẳng vui gì. Nhưng những người lớn có những đại sự tâm linh để lo, và có một đứa trẻ con chạy nhảy khắp nơi sẽ chẳng giúp ích gì thêm cho hành trình đạt đến sự giác ngộ của họ. 

Khi đức Phật có con, ngài đặt tên là Rahula, có nghĩa là gông xiềng. Tôi vẫn thường thắc mắc là không hiểu vì sao đức Phật lại xem đứa con trai của ngài không gì khác hơn là một sợi dây trói buộc. Có một lần, khi má tôi bỏ ra thật nhiều thì giờ cho việc hành thiền ở tu viện, bà hỏi vị thầy nếu bà nên bỏ thêm thì giờ ở với tôi. Vị thầy bảo rằng, bà còn dính mắc vào tôi nhiều quá, điều ấy không tốt, bà phải nên tách xa tôi hơn.

Trong thiền viện nơi nào cũng có hình Phật. Ở mỗi ngõ góc đều có một hình tượng Phật chờ đợi đó, mắt khép nửa, quay nhìn vào trong. Tôi hay chạy chơi theo những dãy hành lang gỗ, cười giỡn luồn lách giữa những sư cô, sư chú đang ngồi thiền, nhưng ở ngã ngách nào tôi quẹo vào cũng thấy những cặp mắt khép nửa chừng ấy, biểu lộ một sự tĩnh lặng và an lạc. Ô kìa, tôi chỉ muốn làm một đứa trẻ thôi mà! Ðức Quan Thế Âm, vị phật bà từ bi, đức Bồ tát Ðịa Tạng Vương bảo vệ những đứa trẻ thơ, và phật Thích Ca Mâu Ni. Tôi bị vây quanh bởi các vị phật, thánh thần bảo vệ, các vị ấy luôn nói với tôi bằng biểu tượng đại định của họ. Sự bình an vĩnh cửu của họ ám ảnh tôi. Các vị ấy trở thành những gương mẫu cho tôi noi theo. Trời ơi! Làm một đứa trẻ đã là khó rồi, lại còn những hình tượng này, lúc nào cũng nhắc nhở tôi rằng con người có thể đạt đến những trình độ ấy, nếu họ cố gắng đúng mức. Ngoài cửa thiền đường có một miếng gỗ to, khắc hàng chữ "Ðừng bỏ lỡ một giây phút nào."

Bây giờ tôi mới hiểu vì sao tôi lại thường thích mặc những bộ đồ của các vị siêu anh hùng, như là Siêu nhân, người Dơi... khi tôi còn bé - vì tôi phải được giống như đức Phật! Ở tuổi lên bảy, tôi phải là thần thánh, vì chỉ có sự siêu phàm mới được kính trọng trong thiền viện Rochester Zen Center. 

Tôi còn nhớ thiền đường làm bằng gỗ và rất tối, sàng được đánh bóng không tì vết và có một màu sáng đục ngay cả trong bóng tối. Trong ngày, khi thiền đường không có ai, tôi thường mang vớ chạy thật lẹ xuống giữa lối đi, rồi lăn quay trợt xuống đụng chân tường cuối phòng. Trong thiền đường có những bục gỗ cao sắp thành hàng dùng để ngồi thiền. Trên đó có những tọa cụ xếp sẵn sàng, mỗi tọa cụ quay đối diện vào vách. Ðôi khi tôi tự hỏi, làm sao mà con người có thể ngồi yên đấy hết giờ này sang giờ khác, không làm gì hết, chỉ nhìn vào một vách tường trống trơn.

Họ ngồi thật yên trên tọa cụ nâu, trong những chiếc áo dài mầu nâu sậm, quay mặt nhìn vào vách, và nếu cử động, họ sẽ bị đập trên vai bằng một cây gậy làm bằng gỗ sồi, gọi là kiasaku. Việc ấy sẽ nhắc họ ngồi yên và chú tâm vào tấm vách tường trống không trước mặt. Một lần, vào sinh nhật 4 tuổi, tôi được những người bạn của ba má tặng cho một cây gậy kiasaku nhỏ, nhưng thật ra tôi không biết sử dụng nó thế nào. Một mặt của cây gậy có khắc hàng chữ đẹp viết bằng mực đen "Hãy tốt với mọi người", vì vậy có lẽ tôi không thể dùng nó để đánh ai hết.

Vào những buổi tối, tôi thường ngồi một mình trong căn phòng nhỏ trên lầu ba của thiền viện, trong khi những người lớn ngồi thời công phu tối. Tôi cảm thấy rất là buồn chán vì nơi đây không có TV, nên tôi thường hay tô vẽ hoặc tưởng tượng nên những đội banh bầu dục để chơi với nhau. Khi mọi người bắt đầu tụng kinh, tôi biết rằng thời công phu sắp chấm dứt và ba má sắp sửa lên đón tôi, và tôi đếm từng phút, từng hơi thở một. Ngồi trên đây biết bao nhiêu lần, tôi đã thuộc lòng hết những bài kinh ấy. Ðôi khi tôi tụng theo nhịp mỏ với mọi người từ căn phòng nhỏ của mình, không hề hiểu một chữ, nhưng cảm thấy thích âm điệu trầm bổng của chúng.

Tôi cũng thuộc bài kinh ăn sáng. Tôi thuộc bài kinh của thời công phu tối, những bài kinh của ngày lễ Vesak. Tôi thuộc từng câu một, cho nên vào lứa tuổi bảy, tám tôi đã chạy chơi miệng lẩm bẩm "Sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc, sắc chính thực là không, không chính thực là sắc... Cho nên trong tánh không, không có sắc thọ tưởng, cũng không có hành thức, không có nhãn nhĩ tỷ, thiệt thân ý sáu căn, không có sắc thanh hương, vị xúc pháp sáu trần..."

Má tôi thường đọc cho tôi nghe những câu truyện công án mỗi tối trước khi tôi đi ngủ. Người giữ tôi hay kể cho tôi nghe về truyện một ngàn lẻ một đức Phật. Tôi thích xem những tranh hoạt họa về truyện tiền thân của đức Phật nhiều như những truyện tranh về siêu nhân và người dơi. Tôi thường ngồi với má tôi, cùng những đứa trẻ khác và má của chúng, ở tầng nhà dưới để nghe pháp thoại qua một chiếc loa nhỏ màu nâu vàng nhạt. Tôi hay hỏi má tôi thế nào là một ông Phật. Tôi hay hỏi má tôi thế nào là một vị bồ tát. Tôi hay hỏi má khi ngồi thiền, tôi nên nhắm mắt hay mở mắt. Tôi có một tấm ảnh thật lớn in hình đức Phật, dán trên tường nhìn xuống chỗ tôi ngủ, đối diện với lại tấm hình của Terry Bradshaw cầu thủ nổi tiếng của đội banh bầu dục Pittsburgh Steelers.

Những mẩu truyện mà tôi nghe kể nhiều nhất là truyện về tiền thân của đức Phật, những kiếp khác nhau của đức Phật trên trái đất này. Những câu truyện này vô cùng kỳ diệu, có đầy đủ những con thú biết nói, ông vua, bà hoàng và những tên ác quỷ lúc nào cũng bị thua. Ðôi khi người kể còn duyên dáng làm điệu bộ bắt chước diễn tả những con vật. Chúng tôi cười thật to khi anh ta từ một con khỉ tham lam, biến qua một con thỏ hiền lành, rồi trở thành một vị bồ tát từ bi. Câu truyện nào cũng có mang theo một luân lý phật pháp, như ta phải là một người tốt lành, biết thương yêu, và bố thí cho kẻ khác, không bao giờ ích kỷ và chỉ nghĩ đến người khác mà thôi, và ta sẽ vui vẻ sẵn lòng tái sanh ba trăm kiếp để làm chú tiểu quét lá đa trước cổng chùa.

Bây giờ mỗi khi ngồi nghĩ lại thời tuổi thơ, một điều mà tôi vô cùng biết ơn là sự có mặt của những huyền thoại trong cuộc đời mình. Những câu truyện tạo cho tôi một thế giới thần thánh thiêng liêng, trong đó có loài vật đều biết nói, con người chân thật và dũng cảm, và mọi sự đều mang một ý nghĩa. Tôi không hề nghi ngờ về những phép thuật trong cuộc sống, hay sự có mặt của lòng từ bi, và sự tỉnh thức. Những câu truyện ấy cũng đã tạo cho tôi một thế giới biến động, một thế giới luôn luôn chuyển hóa để tiến đến một cái gì toàn mỹ hơn, một nơi mà bản chất của con người là toàn thiện. 
 

(còn tiếp)
Cao Khánh Như dịch

Mục Lục