Ông tên thật là Thiệu Diệt, quê làng Bạch Mã, huyện Ðồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Ông mồ côi mẹ từ năm sáu tuổi. Năm mười hai tuổi ông đi chùa Hội Tôn với cha. Gặp thiền sư Tế Viên, ông rất yêu mến và xin cha cho phép ở lại chùa để học đạo. Trong chùa ông làm chú tiểu, ngày ngày lo việc nấu nước, nhặt rau, học Hán tự, hai thời khóa tụng, luật sa di và những kinh điển dễ học. Ông rất được thiền sư Tế Viên thương yêu.

Chín năm sau, thiền sư viên tịch, năm ấy ông mới mười chín tuổi. Tang lễ của thầy vừa xong, ông giả từ các sư huynh, một mình lên đường học đạo. Ông vượt núi băng ngàn ra tận Thuận Hóa, tìm tới chùa Thiên Thọ cầu học với thiền sư Giác Phong. Tu học được một năm thì ông nghe tin cha bị bệnh. Ông xin phép trở lại quê nhà để lo săn sóc cho cha. Hằng ngày ông lên rừng đốn củi, đem về đổi gạo nấu cơm cho cha ăn. Bốn năm sau, cha ông từ trần. Lo ma chay cho cha xong, ông lại lên đường học đạo.

Năm 1695, nghe nói thiền sư Thạch Liêm tổ chức giới đàn lớn tại chùa Thiền Lâm, Thuận Hóa, ông đến ghi tên xin thọ giới sa di. Hai năm sau, ông lại thọ giới tỳ kheo với thiền sư Từ Lâm, lúc ấy được 27 tuổi.

Ðịnh cư hai năm, ông lại lên đường cầu học, tham lễ khắp các tổ đình, trải qua biết bao sự khó khăn khổ nhọc. Năm 1702, ông được gặp thiền sư Tử Dung tại núi Long Sơn, cầu xin học pháp tham thiền. Thiền sư dạy ông tham khảo về công án "Muôn pháp về một, một về chỗ nào?" (vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ?) Ông rút lui về Phú Yên tĩnh cư, ngày đêm tham cứu đến năm năm mà vẫn chưa lãnh hội được, trong lòng lấy làm hổ thẹn. Một hôm đọc Truyền Ðăng Lục đến câu "trỏ vật mà truyền tâm, chính vì vậy mà người ta không hiểu" (chỉ vật mà truyền tâm, nhân bất hội xứ), thoạt nhiên sư được tỏ ngộ, bèn buông sách xuống.

Mùa xuân năm 1708, ông trở ra Long Sơn trình bày công phu mình với thiền sư Tử Dung. Tử Dung nói:

Hố thẳm buông tay
Một mình cam chịu
Chết đi sống lại
Ai dám chê mình?

Ông vỗ tay cười. Tử Dung nghiêm nét nói: "Chưa được." Ông lại nói "Trái cân vốn là sắt." Tử Dung lắc đầu.

Sáng hôm sau, Tử Dung thấy ông đi ngang, gọi lại, bảo: "Chuyện ngày hôm qua nói chưa xong, hôm nay hãy nói lại xem." Liễu Quán đọc:

Sớm biết đèn là lửa
Cơm chín đã lâu rồi!

Bây giờ Tử Dung hết lời khen ngợi.

Mùa hè năm 1712, khi hai người gặp nhau lần thứ ba tại đại lễ Toàn Viện, Liễu Quán đem trình Tử Dung bài kệ "Tắm Phật" mà ông mới làm. Tử Dung hỏi:

- Tổ truyền cho tổ, Phật truyền cho Phật, chẳng hay họ truyền cho nhau cái gì nhỉ?

Liễu Quán đọc liền hai câu:

Búp măng trên đá dài hai trượng
Cây chổi lông rùa nặng mấy cân.

Tử Dung lại đọc:

Chèo thuyền trên núi cao
Phi ngựa dưới đáy biển.

Liễu Quán đọc tiếp:

Dây đứt đàn tranh chơi suốt buổi
Gảy sừng trâu đất rống thâu đêm.

Tử Dung gật đầu tỏ ý rất bằng lòng.

Thiền sư Liễu Quán lúc bấy giờ đã 42 tuổi. Chúa Nguyễn Phúc Khoát rất sùng kính đạo hạnh của ông, nhiều lần triệu thỉnh vào phủ, nhưng ông một mực từ chối, không muốn lui tới nơi triều đình. Vì vậy chúa thường lui tới chùa Viên Thông ở chân núi Ngự Bình để thăm ông và hỏi đạo. Vì lý do đó, ngọn núi kia được gọi là núi Ngự. Ðệ tử thọ giới của ông kể cả xuất gia lẫn tại gia có tới gần bốn ngàn người.

Mùa xuân năm Nhâm Tuất (1742), ông lại dự lễ giới đàn ở chùa Viên Thông. Sáng ngày 21 tháng 11 âm lịch, ông gọi thị giả mang giấy bút tới, và viết bài kệ sau đây:

Ngoài bảy mươi năm cõi sắc không
Sắc không không sắc đã dung thông
Sáng nay vẹn ước, về quê cũ
Hà phải tìm cầu hỏi tổ tông?

Viết bài kệ xong ông ngồi dùng trà. Ðại chúng lên làm lễ, có người than khóc. Ông nói: "Quý vị đừng khóc. Các đức Phật thị hiện còn nhập niết bàn, còn tôi thì đường đi nẻo về đã rõ ràng, không việc gì mà phải khóc." Mọi người im lặng. Thầy trò nói chuyện hồi lâu, ông hỏi: "Ðã đến giờ mùi chưa?" Mọi người đáp: "Phải." Ông nói: "Sau khi tôi đi, quý vị phải nghĩ đến sự vô thường nhanh chóng của cuộc đời mà siêng năng tu tập trí tuệ, chớ quên lời dặn của tôi." Nói xong ông nhắm mắt mà tịch trong tư thế kiết già.

Vua nghe tin, làm bia và tháp cho ông, và ban thụy hiệu là Ðạo Hạnh Thụy Chánh Giác Viên Ngộ Hòa Thượng.

Ông là tổ khai sơn chùa Thiên Thai Thiền Tông ở Huế, thuộc đời 35 dòng Lâm tế. Ông để lại bài kệ truyền pháp sau đây:

Thiệt tế đại đạo
Tánh hải thanh trừng
Tâm nguyên quảng nhuận
Ðức bổn từ phong
Giới định phước tuệ
Thể dụng viên thông
Vĩnh siêu trí quả
Mật khế thành công
Truyền trì diệu lý
Diển xướng chánh tông
Hàn giải tương ưng
Ðạt ngộ chân không.

dịch:

Ðường lớn thực tại
biến thể tính trong
nguồn tâm thấm khắp
gốc đức vun trồng
giới định cùng tuệ
thể dụng viên thông
quả trí siêu việt
hiểu thấu nên công
truyền giữ lý mầu
tuyên dương chính tông
hành giải song song
đạt ngộ chân không.


Việt Nam Phật Giáo Sử Luận - Nguyễn Lang

Mục Lục